Huyền Trang và công cuộc thỉnh kinh vô tiền khoáng hậu của nhân loại

30/08/2018 8:57 Sáng

Huyền Trang sinh năm 602 (sau công nguyên) ở tỉnh Hà Nam – Trung Quốc. Ông sống trong một gia đình vọng tộc, thân phụ ông là Trần Tuệ, làm chức quan huyện ở Giang Lăng đời Tùy. Huyền Trang lúc 8 tuổi đã thích lễ nghi, tính tình nghiêm cẩn, ôn hòa. Năm 13 tuổi ông đến chùa Tịnh Độ ở Lạc Dương xin xuất gia. Mới đầu nhà chùa còn do dự chê ông nhỏ tuổi quá, sau thấy ông thành tâm và thông minh lạ thường nên chấp thuận.

Chân dung Ngài Huyền Trang

Ông học hết các kinh của Tiểu thừa, Đại thừa, học đến quên ăn quên ngủ.

Ông nhận thấy nhiều vị Tăng sĩ cũng thờ Phật Thích Ca Mâu Ni mà giáo thuyết của mỗi người khác xa nhau quá. Có bao nhiêu tông phái là có bấy nhiêu chủ trương, làm cho ông hoang mang, không nhận được đâu là đạo chính truyền. Vì vậy, ông quyết tâm đến nơi phát tích của đạo Phật, tức Ấn Độ, để học tiếng Phạn rồi nghiên cứu tại chỗ những kinh điển cổ nhất, sau đó thỉnh những kinh điển ấy về Trung Quốc.

Năm đầu tiên triều vua Đường Thái Tôn (627 sau công nguyên), Huyền Trang cùng với vài vị Tăng sĩ dâng biểu lên nhà vua xin phép qua Ấn Độ du học. Truyện Tây Du Kí chép rằng, Đường Thái Tôn sai Tam tạng đi thỉnh kinh, lại cho làm ngự đệ lấy họ nhà Đường, có lẻ là muốn quy công cho nhà vua chứ sự thật thì khác hẳn. Vua Thái Tôn không cho phép vì nước mới được bình trị, vương quyền chưa được vững mà sự ngoại giao với các dân tộc ở phía Tây, Trung bộ Á Châu lại chưa được tốt đẹp.

Đợi mãi không được phép, các vị hòa thượng cùng dâng biểu với ông đã ngã lòng bỏ đi. Ông kiên nhẫn ở lại Tràng An học thêm tiếng Ấn Độ. Đêm ngày ông cầu nguyện các vị Bồ tát cho ông đủ sáng suốt và nghị lực để thực hiện được hành trình Tây du của ông mà ông biết là rất khó khăn, phải qua nhiều nơi hiểm trở, hoang vu, trộm cướp.

Năm 629 (sau công nguyên), ông 28 tuổi (tính theo phương Đông), thành Tràng An bị nạn mất mùa, triều đình cho phép dân ở kinh đô được phép đi nơi khác làm ăn, ông theo nhóm người di cư, đi về hướng Tây, mở đầu cuộc du hành vạn lý.

Khi tách khỏi nhóm người di cư, ông một mình tiến về phía Ấn Độ, đường đi thật gian nan vô cùng. Ông phải tránh năm phong hỏa đài, đó là những đài báo hiệu bằng cách đốt lửa lên khi có giặc tới để cho người canh ngọn đài kế tiếp trông thấy và cũng đốt lửa lên báo hiệu. Mỗi đài cách nhau khoảng 100 dặm đều có lính canh, cho nên ai muốn kiếm thức ăn, nước uống phải đến chân phong hỏa đài để rồi sẽ bị giam cầm tra hỏi. Qua khỏi 5 phong hỏa đài, ông tiến về phía Tây đi vào sa mạc Mạc Hạ Diên Tích và từ đây ông rời xứ sở của tổ tiên.

Đường qua sa mạc dài 800 dặm, tức non 500 cây số, có tên là Sa Hà (con sông cát). Người xưa đã tả sa mạc đó như vầy:“Không có loài cầm, không có loài thú, chẳng có nước mà cũng chẳng có cỏ. Muốn tìm phương hướng thì khách bộ hành phải nhận bóng của mình và tụng kinh Phật”. Có lúc ông tìm suối nước mà không thấy, khát quá ông lấy bầu nước ra nhưng tay ông lóng cóng mà bầu thì nặng, rớt xuống cát, nước chảy hết,chán nản ông định quay trở về. Nhưng sau khi đi được 10 cây số, ông nghĩ lại: “Hồi đầu ta đã thề là không tới Tây Trúc thì không trở về quê hương, thà đi về phương Tây mà chết còn hơn là trở về hướng Đông mà sống”. Rồi ông thúc ngựa, hướng về Tây Bắc mà đi.

Ông lại phải leo núi Thông Lãnh cao 7200m trong dãy Thiên Sơn. Ông tả núi đó rất kỹ: “Nó rất nguy hiễm, ngọn đụng trời. Từ hồi khai thiên lập địa, tuyết phủ, băng đóng quanh năm không tan, leo trèo thật khó khăn, lại thêm lúc nào cũng có thể có những cơn dông tuyết,…”. Ông rất vất vả mới qua khỏi dãy Thiên Sơn, ông đi dần dần tới Lampaka, ở đây khí hậu, hơi nóng, cây cối um tùm, có nhiều khỉ. Người dân thì vui vẻ, thích hát ca, thích nhảy múa, bân áo vải, màu rực rỡ. Đúng là dân tộc Ấn Độ.

Huyền Trang kỷ niệm đường tại Nalanda, Ấn Độ

Huyền Trang sống ở Ấn Độ gần 10 năm, có dịp đi khắp nơi, được trông thấy bao nhiêu điều lạ, rồi bẩm sinh có óc nhận xét tinh tế, ghi cả lại trong tập Tây du ký, sau này nó trởthành những tài liệu quý giá giúp cho người thời đó và cả những học giả thời nay hiểu Ấn Độ nhiều hơn. Trong cuộc hành hương về xứ Phật lúc đó, lòng ông rung động, bồi hồi tưởng như lúc nào cũng được nghe những lời thuyết giảng của đức Phật và cuộc đời hy sinh của Ngài.

“Hỡi các tỳ kheo, có hai thái cực mà ta phải tránh: Một cái là đời hoan lạc, nó thấp hèn phù phiếm, một cái là đời khổ hạnh, nó thê thảm, đau khổ và vô ích,…”.

“Hỡi các tỳ kheo, đây là chân lý về đau khổ: sinh, lão, bệnh, tử, phải xa cách cái gì mình yêu,…đó là khổ. Và đây là nguồn gốc của khổ: lòng dục,… Đây là chân lý về khổ diệt: Niết bàn, tịch tịnh. Và đây là chân lý về phép diệt khổ: Diệt được lòng dục đó đi thì diệt được khổ, gồm có chánh đạo tám ngành”.

Đến năm 645 (sau công nguyên) ông trở về tới quê nhà Tràng An. Tính ra ông đã xa 16 năm, đi gần 3 vạn cây số, qua 128 nước và đem về được 150 xá lợi tử, bảy tượng Phật gỗ quý cao từ 2m đến 3,5m và 657 bộ kinh.

Mới  về nước được hơn 1 tháng, ông bắt đầu ngay việc dịch kinh đại quy mô và mãi miết làm luôn 19 năm cho tới khi qua đời.

Ông tịch ngày mùng 5 tháng 2 năm 664 (sau công nguyên). Ngày 14 tháng 4, một triệu người ở Tràng An và tứ xứ quy tụ về tiễn đưa linh cửu ông tới an táng ở Bạch Lộc Nguyên. Sau đó, 3 vạn người đến cất nhà cư tang ở bên mộ. Trong lịch sử nhân loại, từ xưa đến nay chưa ai được vinh dự ấy như ông.

Trần Huyền Trang là một tấm gương hy sinh vì đạo Phật đáng cho ta kính phục. Việc dân tộc Trung Quốc thần kỳ hóa việc thỉnh kinh của ông, truyền miệng cho nhau, sao chép lại thành bộ tiểu thuyết Tây du ký cũng là một danh dự từ xưa đến nay chưa mấy người sánh kịp.

Cư sĩ Viên Minh

 

Các tin đã đăng